Việt Nam: Cơ hội bứt phá sau khủng hoảng
- Thứ 6 , 10/09/2010, 16:09Thị trường hồi phục thì TCNH và Dịch vụ viễn thông là 2 ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Vấn đề chính của VN hiện nay là bất ổn tỷ giá, cán cân thanh toán quốc tế.
Tại
hội thảo “Kinh
tế Việt
Nam:
Cơ hội và thách thức hậu khủng hoảng tài chính toàn
cầu”
do
Báo Đầu tư tổ chức, diễn ra tại TP. HCM sáng 9/9, một
vài diễn giả lo ngại vấn đề tỷ giá hối đoái của
Việt Nam trong những tháng cuối năm, cũng như Việt Nam
cần có những đột biến về thể chế để thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Đây cũng là yếu tố được xem sẽ
tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
Theo
nhận định của Ông Lê Xuân Nghĩa, tỷ giá hối đoái ổn
định, "áp lực đa biến" trong ngắn hạn và áp lực khá
cao về trung và dài hạn do thâm hụt thương mại lớn,
thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế cao; do cung ảo –
cho vay ngoại tệ đang giảm dần, cầu – huy động ngoại
tệ để trả nợ ngân hàng đang tăng lên. Nếu thâm hụt
thương mại giảm mạnh, và điều hành tỷ giá linh hoạt
hơn; đầu tư nước ngoài tăng lên thì áp lực này sẽ
giảm xuống.
Ông Lý Xuân Hải – Tổng
giám đốc Ngân Hàng TMCP Á Châu (MCK: ACB)
cho rằng tỷ giá không thể tách rời lãi suất. “Ngày
hôm nay chúng ta mong muốn hạ lai suất xuống, ta phải
lượng được việc hạ lãi suất sẽ ảnh hưởng đến
tỷ giá như thế nào. Lãi suất tiền đồng tăng hay giảm
cần xem xét trong tương quan giữa các đồng ngoại tệ
khác”.
Trong
tham luận của Ông Nguyễn Đoan Hùng cho biết: Dưới
tác động của khủng hoảng, dòng vốn đầu tư gián tiếp
nước ngoài vào TTCK Việt Nam chững lại, từ cuối 2008
đến giữa năm 2009 dấu hiệu bán ròng của nhà đầu tư
nước ngoài khá rõ rệt, nhưng việc rút vốn không nhiều,
mà phần lớn thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư (cổ
phiếu; trái phiếu; bất động sản..vv).
Sang
đầu năm 2010 dòng vốn nước ngoài vào TTCK không nhiều.
Mặc dù dấu hiệu mua ròng trong Quý 2 và 3/2010 nhưng mức
chênh lệch không lớn.
Việc
suy giảm của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong năm
2008 và những tháng đầu năm 2009 cho thấy do ảnh hưởng
của tình hình thế giới, đặc biệt là khó khăn của
chính các tổ chức đầu tư, nên việc bán ra của nhà
đầu tư nước ngoài đã tăng. Lượng bán ra tập trung
vào trái phiếu Chính phủ và những cổ phiếu có tính
thanh khoản cao.
Mức độ rút vốn gắn liền với
suy giảm của thị trường và so với tổng mức dự trữ
ngoại tệ cũng không lớn (do đã rút một phần và do giá
thị trường giảm). Ngoài ra, khả năng rút vốn cũng bị
hạn chế vì vấn đề giá cả, tính thanh khoản, khả
năng chuyển đổi USD. Hơn nữa, khoảng 2/3 danh mục do các
quỹ đóng nắm giữ nên sức ép thanh lý sẽ thấp hơn
quỹ mở.
Theo Tiến sĩ Phạm Đỗ Chí – chuyên gia
kinh tế tài chính: Vấn đề chính từ nay đến cuối năm
là bất ổn tài chính do vấn đề tỷ giá, cán cân thanh
toán quốc tế.
Hậu
khủng hoảng – cơ hội cho Việt Nam vươn lên
Ông
Lý Xuân Hải – Tổng
giám đốc Ngân Hàng TMCP Á Châu (MCK: ACB) chia sẽ tại Hội
thảo: Sau
năm 2008, bức tranh về kinh tế xã hội đã có những thay
đổi: nhận thức xã hội thay đổi, hành vi của doanh
nghiệp, hành vi người quản lý, hành vi của khách hàng,
người tiêu dùng thay đổi đòi hỏi chúng ta phải thay
đổi theo.
Trong thời gian khủng hoảng, từ tầm
cở quốc gia đến doanh nghiệp, cá nhân luôn tìm cách làm
sao để thoát khỏi khủng hoảng, và hưởng lợi từ
khủng hoảng chủ động.
Theo báo cáo của một tổ
chức nghiên cứu Thụy Sĩ: Một quốc gia khi GDP trên đầu
người tăng từ 1000 lên đến 6.000 USD/năm thì đó là
thời kì thăng hoa của thị trường bán lẻ trong đó có
2 ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, tận dụng
được cơ hội này là ngành Tài chính ngân hàng và Dịch
vụ viễn thông.
Như vậy ngành tài chính ngân hàng
Việt Nam từ góc độ quản lý nhà nước, tư vấn giám
sát, đến các ngân hàng phải có chiến lược chung. Hiện
tại, nhìn vào cơ chế chính sách và doanh nghiệp chúng ta
đang ở thế thủ hơn công trong trong điều kiện chúng ta
dễ dàng bị tổn thương, quên đi chuyện chúng ta cần
phải mạnh mẽ hơn.
"Niềm tin dựa trên yếu tố
quan trọng là chất lượng dự báo. Chúng tôi chịu sức
ép lớn trong dự báo: dự báo trong trung và dài hạn. Cần
một bộ chỉ số để dự báo, lượng hóa được các
vấn đề rủi ro trong lĩnh vực tài chính. Chính sách tiền
tệ có thể thắt chặt hay nới lỏng, nhưng nếu chúng ta
có biện pháp hay công cụ cảnh báo như vậy có lẽ nó
sẽ dễ dàng hơn trong việc điều hành chính sách, hoạch
định chính sách.
Chính
sách tài khóa, chính sách đầu tư đồng bộ, được
lượng hóa thành bộ chỉ số, minh bạch sẽ tạo ra niềm
tin, thị trường minh bạch hơn, giúp chúng ta xây dựng
thể chế một cách minh bạch hơn.
Vấn đề lớn
nhất của nền kinh tế hiện nay theo tôi là cấu trúc –
cấu trúc thu nhập. Cấu trúc thu nhập này được tạo ra
bởi “động cơ” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
trong suốt 10 năm -20 năm qua: nhân công giá rẻ, vốn, tài
nguyên. 3 “động cơ” này ngày càng thu hẹp lại, cạn
năng lương, chúng ta cần có “động cơ” mới để làm
sao chúng ta nâng cao được chất lượng đầu tư, để
tạo ra giá trị gia tăng.
Điều
này đòi hỏi có công nghệ, đòi hỏi có chính sách đầu
tư, chính sách tài khóa mang tính quốc gia để có những
chương trình mũi nhọn. Từ đó chúng ta có những chính
sách dài hạn, có được niềm tin thị trường. Thông qua
đó tạo ra cơ hội cho chính chúng ta sau khủng hoảng", ông Hải nêu ý kiến.
Ông
Nguyễn Công Ái – Giám đốc Điều hành Công ty Kiểm
toán KPMG cho rằng: Kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn,
tuy nhiên cơ hội đối với các nước đang phát triển,
đặc biệt là Việt Nam.
Các doanh nghiệp Mỹ, gần
đây đã nỗ lực tìm kiếm những giải pháp tiết giảm
chi phí tối đa thông qua việc tiếp cận thị trường mới
nỗi như: Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc. Trong những thị
trường này, Việt Nam là thị trường giúp cho họ giảm
chi phí đáng kể đặc biệt trong các hoạt động
outsourcing trong các ngành công nghệ cao, các dịch cho khách
hàng….
Trong khi đó báo cáo từ KPMG toàn cầu cho
thấy, chi phí ở Trung Quốc đang tăng lên đáng kể trong
những năm gần đây, lương đang là vấn đề đáng kể.
Chi phí tại Việt Nam mặc dù cao hơn Indonesia, Phillipine…
nhưng so với Trung Quốc, Thái Lan thì vẫn thấp hơn.
Do
đó, đây là cơ hội của Việt Nam thu hút các tập đoàn
lớn. Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã khác
trước, hoạt động mạnh hơn và vươn ra toàn cầu, tìm
các cơ hội, giải pháp đầu tư ra nước.
“Chúng
tôi chờ đợi trong năm 2010, tiếp theo năm 2011 kinh tế
Việt Nam sẽ có những triển vọng tốt đẹp”.
Q.Nguyễn